Tình khúc và cuộc đời...

Status
Not open for further replies.

trongkimtrn

Phàm Nhân
Dịch Giả Trường Sinh
Ngọc
1.309,40
Tu vi
0,00
Có lẽ câu hỏi Tình yêu là gì? vẫn chưa tìm ra câu trả lời được mọi người đồng thuận hết, mỗi người chắc đều có câu trả lời cho mình. Riêng với các nhạc sĩ thì câu trả lời của họ có lẽ luôn được gói gọn trong những sáng tác của mình, chúng được gọi là tình ca hay tình khúc.:damvinhung:

Mỗi một bản tình ca không chỉ có giai điệu, lời ca và hoàn cảnh ra đời khác nhau mà còn chứa đựng đủ mọi sắc thái tình cảm. Vì vậy nghe nhạc tình ta không chỉ nghe âm thanh nhậm lời bài hát, mà trên hết là cảm nhận cái tình, cái đời chất chứa trong đó.:)

Topic này lập ra với mục đích vừa tổng kết những nhạc khúc yêu thích vừa muốn tìm hiểu hoàn cảnh ra đời cũng như những điều liên quan đến chúng. Và hoan nghênh các bạn chia sẻ về những bản tình ca mà bạn yêu thích.:54:

--o0o--
1. Xin mở đầu bằng bài hát Tình lỡ của Nhạc sĩ Thanh Bình:

Thôi rồi còn chi đâu em ơi! Có còn lại chăng dư âm thôi, trong cơn thương đau men đắng môi...

Chắc khó ai có thể quên được những giai điệu mượt mà và ca từ nhẹ nhàng, khắc khoải trên. Bài hát không chỉ cho ta thấy nét buồn đau mà còn khiến ta như nếm được gia vị của con người ta khi trải qua cuộc tình chưa trọn.

Bài hát này đã được nhiều ca sĩ nổi tiếng trình bày, nhưng theo tôi thì nổi bật nhất vẫn là hai nữ ca sĩ Khánh Ly (1970) và Lệ Quyên (hiện nay). Tiếng hát của họ đã chinh phục bao trái tim khán giả mộ điệu, có biết bao nước mắt rơi, nụ cười xúc cảm hòa theo lời ca ấy:

"Yêu rồi tình yêu sao chua cay. Men nào bằng men thương đau đây. Hỡi người, bỏ ta trong mưa bay...”

Tình khúc được nhạc sĩ Thanh Bình viết về chính cuộc đời mình và cho một cuộc tình đẹp không phần kết. Họ lạc nhau khi đất nước chia cắt để rồi trọn đời ly biệt. Nhưng cuộc tình ấy, người con gái ấy đã theo đuổi nỗi nhớ trong ông đến tận bây giờ. Lúc hỏi bóng hồng nào đã khiến ông phải đau khổ để viết nên tác phẩm này, ông kể lại:

“Ca khúc này tôi viết cho một người con gái ở Hải Phòng. Lúc đó tôi 24 tuổi và rất thiết tha với người này. Ngày tôi xuống tàu ở cảng Hải Phòng vào nam, đứng trên boong tàu, tôi nhìn thấy nàng đang hối hả chen lấn, vạch đám đông người đưa tiễn để mong kịp chia tay tôi, nhưng tôi lại đứng lẫn vào đám đông trên boong tàu, còn nàng thì chạy dọc theo bờ cảng và không nhận ra tôi… Chẳng nói được với nhau câu nào.

Tôi vào nam, ít lâu sau hay tin bố mẹ nàng ép lấy chồng. Tôi buồn lắm, khoảng 1 tháng sau tôi viết được bài Tình lỡ (1954)…”.

Tình lỡ còn là ca khúc chính được sử dụng trong phim ‘Nàng' do đạo diễn Lê Mộng Hoàng thực hiện năm 1970 (dựa theo tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Bùi Hoàng Thư, phim đoạt giải Tượng vàng tại Đại hội Điện ảnh Á châu ở Đài Loan lần 17). Ở cuối phim, Vân (Thẩm Thúy Hằng) đi dọc bãi biển trong buổi chiều lộng gió, tà áo dài bay phất phơ lồng trong tiếng hát của Khánh Ly: “Một vầng trăng lỡ đã thôi không theo nhau. Cuộc tình đã lỡ với bao nhiêu thương đau. Hết rồi thôi đã không còn gì thật rồi. Chỉ còn hiu hắt cơn sầu không nguôi…"

* Về tác giả

Tình lỡ là ca khúc nổi tiếng nhất của nhạc sĩ Thanh Bình và có lẽ cuộc đời ông cũng giống như lời bài ca ấy.
thanh-binh-thanhnien.com_.vn-ha-dinh-nguyen-dongnhacxua.com_.jpg

Nhạc sỹ Thanh Bình thời trẻ. Ảnh: Hà Đình Nguyên.
Nhạc sĩ Thanh Bình tên thật là Nguyễn Ngọc Minh, sinh năm 1932, nguyên quán Bắc Ninh. Mồ côi mẹ khoảng 10 hay 11 tuổi sau vài năm cha mất. Ông có một chị và hai em gái. Nay chị và em gái út đã mất, còn cô em kế sống ở Pháp nhưng không có liên lạc gì.

Khoảng 1952-1953, ông viết truyện ngắn và đưa tin văn hóa văn nghệ cho nhiều tờ báo: Tia Sáng, Liên Hiệp, Tin Sớm, Bình Minh, Văn Nghệ... với bút danh Thanh Bình. hạc sĩ Phó Quốc Thăng là cậu ruột của ông nhưng ông lại say mê cảm hứng học nhạc từ giáo sư âm nhạc Phạm Sửu tại Thanh Hóa. Từ năm 1950-1954, ông xuôi ngược các vùng miền Bắc Ninh, Hải Phòng, Thanh Hóa, Sầm Sơn, Hà Nội rồi sau đó vào Nam khai sụt tuổi để trốn lính.

Sau 54, tại miền Nam, người ta biết đến Thanh Bình như một người viết ca khúc nhiều hơn viết văn.

Yêu rồi, tình yêu sao chua cay

Các tác phẩm của nhạc sĩ Thanh Bình được ông viết bằng cả tình yêu ngọt ngào, dung dị của hồn quê, tình yêu thương sâu sắc quê hương đất nước mình, với những cảm xúc đầu đời hồn nhiên của chàng trai lãng mạn, đau đến tận cùng những mối tình đã lỡ...

Chỉ vậy thôi nhưng cũng quá đủ để đong đầy tình người hâm mộ dành cho ông. Âm nhạc của ông thật gần gũi với tâm t.ư tình cảm, đời sống con người qua các ca khúc mà ông đã âm thầm góp phần trong gia tài âm nhạc Việt Nam.

Mắt lệ mờ hoen, dư âm xưa

Cuộc đời nghệ sĩ của ông đầy thăng trầm biến động, giờ cũng chỉ còn lại hình hài một ông lão ngoài 80 nhỏ bé, cô đơn.

Nhưng thật ra tiếng lòng của người nhạc sĩ tài hoa ấy chưa bao giờ khép lại. Ông không sống bằng dư âm, nhưng có lẽ luôn ấp ủ nó ở đâu đó trong sâu thẳm tâm hồn mình.
Quả thật, cần nhiều khoảng lặng lắm ông mới có thể trải lòng cùng tôi về những cuộc tình, những đám cưới đã đi qua đời mình...

Ðời nghệ sĩ đưa ông lang bạt kỳ hồ. Cứ Hải Phòng, Nam Ðịnh, Thanh Hóa, ra Hà Nội rồi lại vào Nam, nhưng cũng chẳng tránh khỏi phận long đong... Rồi nhiều cuộc tình dâu bể không thành. Có lần ông lại thành “chú rể bỏ trốn” ngay trước giờ hôn lễ. Mãi đến năm 1973 ông mới chính thức lập gia đình với một người phụ nữ xinh đẹp, sống trong căn hộ chung cư ở đường Tự Do (nay là Ðồng Khởi) , Q.1, Sài Gòn. Cuộc sống khá đơn sơ, sáng ông dạy lớp tiếng Anh, chiều lớp tiếng Pháp. Và có lẽ cũng hạnh phúc được vài năm. Sau năm 1975, vợ chồng ông mở quán cơm ven đường Ðồng Khởi. Những tưởng đâu sẽ an lành bên vợ đẹp con xinh, nhưng rồi cũng đến lúc cơm không lành canh không ngọt. Bà đã bỏ đi khỏi nhà, bỏ lại ông khi con gái mới hơn 3 tuổi. Ông rơi vào cảnh gà trống nuôi con mọn, kinh tế túng quẫn, cuộc sống vá víu đắp đổi qua ngày. Ông mơ hồ nói: “Có lẽ cô ấy đã rẽ sang bước khác, tôi không chắc cũng chẳng nhớ nữa...”

Ca sĩ Ánh Tuyết là một trong những người ca sĩ gắn bó với ông trong những năm cuối đời, cô đã nhiều lần đến thăm và giúp đỡ cố nhạc sĩ khi ông còn sống. Có lần ca sĩ Ánh Tuyết thắc mắc: Vì sao mà tình trường của ông luôn dang dở vậy? Ông khẽ nhận, “phần nhiều là do lỗi nơi tôi”. Ðôi mắt buồn trĩu nặng! Hỏi thêm ông về những tháng ngày sau đó, ông xua tay bảo: “Trời ơi! Thời gian lâu quá không làm sao nhớ nổi”.

Không nhớ nổi hay là ông đã muốn quên đi những nhọc nhằn, cay đắng trong cuộc đời mình.

Chỉ còn hiu hắt cơn sầu, không nguôi...

Thanh Bình không chỉ có mỗi ca khúc Tình lỡ, mà ông còn là tác giả của những ca khúc: Còn nhớ hay quên?, Đừng đến rồi đi (1959), Tiếc một người (1972) Những cái tựa của các ca khúc kể trên khiến người ta tự hỏi: nhạc sĩ Thanh Bình viết cho ai đây, người yêu đầu đời hay người vợ tuyệt tình…?

Những năm cuối đời, ông sống hiu hắt với mấy người háu gái họ, bởi con gái ruột của ông vướng vòng lao lý. Khi nhắc đến con gái thì tự nhiên ông lại nhớ, lại kể: “Con gái gần 40 tuổi, nó lận đận lắm... Bây giờ con gái đang ở tù, vướng vào vòng lao lý của vòng đời cơ cực mà ra!... Do nó ham tiền, hùn vốn làm ăn với người ta rồi gặp xui nên mắc họa”.

Hai cô cháu gái của ông xót xa kể: “Khi con gái đi tù mới khoảng một năm, ông bị bỏ rơi ở bến xe miền Ðông. Ông già 81 tuổi gầy gò, ốm yếu đang mắc nhiều bệnh nguy nan với thùng quần áo cùng cái quạt máy cũ kỹ. Ông sống lay lắt gần tháng trời với bánh mì hay ăn tạm miếng cháo qua ngày”. Những ngày lang thang đó, ông kể: “Tôi đưa chứng minh nhân dân thuê được chiếc chiếu 500 đồng/ngày, tìm đại chỗ trống ngả cái lưng, sáng ra thấy người ta cũng ngủ đông nghẹt xung quanh”.

Cũng may còn một chút an ủi, ông còn có những người cháu gọi là cậu ruột. Họ cũng mồ côi cha mẹ. Và họ sẵn sàng đón ông về chăm lo nuôi dưỡng. Cũng gần một năm rồi, họ túm tụm đùm bọc nhau trong căn nhà chỉ 21m2 mà có tám nhân khẩu, nay lại nuôi thêm ông.

Nỗi nhớ thương con trong vô vọng. Liệu ông có đủ sức chờ đợi khi tuổi già sức yếu lắm bệnh nguy nan đeo bám, nào là tim, cao huyết áp, giờ lại thêm bệnh phổi và bệnh nghễnh ngãng... Không biết khi con gái được mãn tù, ông có còn sống để nhớ mà nhận ra con không?...

Đầu năm 2014, đêm nhạc mang tên Tình lỡ được ca sĩ Ánh Tuyết mời gọi mọi người chung tay thực hiện. Cô chia sẻ: “Tôi muốn chúng ta cùng giúp ông có một sổ tiết kiệm, đỡ bớt giùm cái nghèo cái khổ đã đeo bám ông suốt cả cuộc đời”.
Ydq4x6ok.jpg

Nhạc sĩ thanh Bình và ca sĩ Ánh Tuyết vào năm 2013

Hết rồi còn chi đâu em ơi!

Sau nhiều năm bệnh tật, ông đã ra đi vào lúc 4 giờ 10 phút ngày 23-5-2014, hưởng thọ 82 tuổi. Kết thúc cuộc đời chẳng thanh bình không giống cái tên của ông, như lời ca sĩ Ánh Tuyết đã nóì: "Bấy nhiêu bài hát ấy đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng người mộ điệu. Tuy nhiên, cái kết cho cuộc đời ông thì lại nhạt nhẽo như những ca từ trong Tình lỡ".

Nhưng cuộc đời và những người yêu nhạc trữ tình vẫn sẽ luôn nhớ đến ông với những bản tình ca còn mãi theo năm tháng, sẽ không hết rồi đâu...♪♪♫ ♪♫♫♫ ♥♥♥
 
Last edited:

trongkimtrn

Phàm Nhân
Dịch Giả Trường Sinh
Ngọc
1.309,40
Tu vi
0,00
2. Lệ đá, nhạc: Trần Trịnh, thơ: Hà Huyền Chi
Lệ đá, chặng đường từ nhạc đến lời

Vào những năm 1967, 1968, ca khúc Lệ Đá ra đời được nhiều ca sĩ trình diễn và giới yêu nhạc nồng nhiệt đón nhận.

Trong âm nhạc, các ca khúc “Nhạc phổ thơ” rất phổ biến và đóng một vai trò quan trọng trong nền âm nhạc Việt Nam. Thường thì nhạc sĩ đặt những nốt nhạc để làm câu thơ thăng hoa, rung động hồn thính giả. Còn như “Lệ đá” lại có một đời sống khá đặc biệt: nhạc chào đời trước, lời ra sau. Khi lời quyện với nhạc thì như chắp đôi cánh và nhanh chóng thu hút. Thu hút ca sĩ, thu hút thính gỉa, thu hút thế hệ xưa và cả thế hệ hiện nay nữa.


Hỏi đá xanh rêu bao nhiêu tuổi đời. Hỏi gió phiêu du qua bao đỉnh trời...

Nó vốn là một bản nhạc không tên được nhạc sĩ Trần Trịnh sáng tác vào giữa thập niên 60, khi đó tác giả còn là một nhạc sĩ mới, chưa có nhiều tiếng tăm trong làn tân nhạc thời bấy giờ.

Cơ duyên đã đưa người nhạc sĩ đến với nhà thơ Hà Huyền Chi, để rồi “Lệ đá” ra đời khi nhà thơ đã hòa được cảm xúc thơ của mình vào giai điệu thiết tha, dịu nhẹ của bản nhạc.

Một điều thú vị là, nhà thơ Hà Huyền Chi không chỉ đặt một lời cho nhạc phẩm mà viết tận 5 lời. Lời nào cũng rất thơ và đầy cảm xúc, nhưng có lẽ nổi tiếng hơn cả là chính là lời đầu tiên mà bây giờ chúng ta thường nghe.

trantrinh_le1bb87-c491c3a11.jpg

Nói về nhạc phẩm Lệ Đá trước đây, nhà thơ Hà Huyền Chi cho biết:

Ngó lui mấy chặng đường Lệ Đá

"Lệ Đá, trước hết, không phải là một bài thơ phổ nhạc. Phải nói là tôi đã đặt lời cho bản nhạc (vốn không tên) của Trần Trịnh mới đúng. Do một cơ duyên đặc biệt, Trung sĩ Nguyễn Văn Đông, chơi Clarinet, giới thiệu Trần Trịnh với tôi:

-Nhạc Trần Trịnh khá lắm, nhưng rất ít người biết đến. Xin anh giúp thằng bạn em một lần, đặt lời ca giùm cho nó.

Tôi rất cảm mến Đông, nhưng liền lắc đầu:

-Em biết là anh vốn mù nhạc mà

Đông tha thiết:

-Em biết chứ, nhưng em thành thực nghĩ rằng chỉ có anh mới giúp được nó.

Trần Trịnh cười hiền:

-Xin anh giúp cho, Tôi nghĩ là sẽ có cách...

Tôi thẳng thắn đặt điều kiện:

-Nể thằng em, coi như tôi thuận trên nguyên tắc. Tuy nhiên, tôi cần nghe anh đàn bản nhạc này vài lần để có khái niệm về nhạc tính. Và tôi cũng cần ý kiến thẩm định về nhạc thuật của bài này với những Pianist như Dzương Ngọc Hoán (chồng Pianist, ca sĩ Quỳnh Giao)

Chúng tôi kéo nhau lên đài phát thanh Quân Đội Trần Trịnh ngồi vào Piano và điều ngạc nhiên là tôi ưa ngay cái âm hưởng buồn ngất ngây dịu nhẹ, rất Pianissimo ấy, Melody thật tha thiết, ngọt ngào, bắt nhĩ. Khi ấy Đông đã kéo Dzương Ngọc Hoán qua và Hoán khen bản nhạc này không tiếc lời, khiến tôi có ngay quyết định giúp Trần Trịnh. Sau phần thảo luận, chúng tôi tự chế ra một quy ước riêng. Trần Trịnh ghi dưới các nốt nhạc chữ "o" cho những từ không dấu (bình thanh) / Dấu huyền cho các từ mang dấu huyền, hỏi, nặng/ sắc cho các từ mang dấu sắc, ngã.

Tiếc là khi ấy loại máy cassette còn chưa được phổ biến. Tôi nghe Trịnh đàn thêm vài lần nữa và cố gắng nhập tâm cái âm hưởng của bản nhạc. Và tôi bắt đầu chơi ô chữ.

Hôm sau, tôi đem đến Trần Trịnh lời ca thứ nhất của Lệ Đá. Kết quả ngoài sức tượng tượng tôi, là không biết bằng cảm hứng nào đó, tôi đã hoà được cái rung cảm đích thực của thơ tôi cho nhạc Trịnh. Trần Trịnh mừng rỡ tới sững hồn. Anh và Hoán cùng hân hoan hát Lệ Đá khiến tôi cũng choáng ngợp niềm vui:

"Hỏi đá xanh rêu bao nhiều tuổi đời
Hỏi gió phiêu du qua bao đỉnh trời"


Lập tức tôi viết lời 2. Buổi trưa nắng gắt, dưới mái tôn thấp lè tè của quán cơm lính trong trại Trên chiếc bàn bọc nhôm nóng bỏng, cáu bẩn, tôi thả hồn bay với Lệ Đá. Tôi viết thật dễ dàng, và khóc cũng dễ dàng với:

"Người đi, đi mãi không về
Thời gian xóa vội câu thề
Bóng anh nhạt nhoà bóng núi
Em với tình yêu trăng soi
Tượng đá kiên trinh ru con đợi chồng
Nhạc lá thu mưa hay chân ngựa hồng..."


Tôi cứ vừa viết vừa khóc thế đó, như khi ngồi chép lại những dòng nà . Tôi bỏ dở bữa ăn, đem lời 2 lên đài Quân Đội.Gặp Nhật Trường trước phòng vi âm. Tôi đưa Lệ Đá ra khoe Nhật Trường hát ngay với nỗi hân hoan bốc lửa . Hắn túm ngay lấy Trần Trịnh đòi soạn cấp kỳ hoà âm cho ban nhạc và 2 bè khác cho Mai Hương, Như Thuỷ. Khoảng nửa giờ sau Lệ Đá được thâu cấp kỳ. Nhật Trường, Mai Hương, Như Thuỷ, mỗi nguời trên tay một bản Lệ Đá "mì ăn liền" say mê hoà ca với nỗi xúc động đồng thiếp. Take one Good take! Hát và thâu hoàn chỉnh ngay lần thứ nhất.

Nhật Trường như bay ra khỏi phòng vi âm ôm lấy tôi và Trần Trịnh:

-Ông đặt lời thần sầu . Bản này sẽ là Top Hit.

Tôi nhún nhường:

-Top Hit được là nhờ nhạc Trần Trịnh bay bổng như diều đấy chứ.

Nhật Trường cướp lời:

-Nhưng ông là gió lớn. Đại phong...

Và với các lời kế tiếp:

Lời bài hát Lệ Đá (2)

Tượng đá kiên trinh… ru con đời đời / Là nét đan thanh… nêu cao tình người / Là ánh chiêu dương… đẩy lùi bóng tối / Tháng năm xa… trùng trùng sóng gối / Ngóng nhìn từ… bát ngát chân mây

Bài hát ca dao… theo tôi vào đời / Và giữ cho tim… tôi xanh nụ cười / Nào biết trong em… còn nhiều trống vắng / Trái yêu đương… chỉ là trái đắng / Gã tật nguyền… buông trôi niềm tin

ĐK: Tình yêu… đã vỗ… cánh rồi / Là hoa… rót mật… cho đời / Chắt chiu… kỷ niệm… dĩ vãng / Em nhớ gì… không em ơi

Tương đá kiên trinh… ôm con đợi chồng / Nhạc lá thu mưa… hay chân ngựa hồng / Lệ đá tuôn rơi… dòng dòng nối tiếp / Ngóng chinh phu… đời đời kiếp kiếp / Suối vọng tìm… trăng xanh đầu non

Cái ma kiếp của một bài ca được yêu chuộng thường yểu tử, và xuống cấp. Nhưng Lệ Đá thì không. Nó may mắn thoát khỏi định số ước lệ ấý. Vào những năm 67, 68 nhạc phẩm “Lệ Đá” được cất tiếng thường xuyên hầu như ở khắp mọi sinh hoạt văn nghệ mà thời kỳ này nhạc Trịnh Công Sơn đang được mọi người hâm mộ. Lệ Đá góp mặt hàng đêm ở các phòng trà, tiệm nhảy. Lệ Đá vào khuê phòng, ra máy nước. Rồi quán cà phê cũng Lệ Đá, phim ảnh cũng Lệ Đá với tiếng hát Khánh Ly, phim do Thanh Nga, Đoàn Châu Mậu diễn xuất, và Bùi Sơn Duân đạo diễn.

May sao, Lệ Đá vẫn chưa trở thành nhạc sến, nhạc đứng đường. May sao, tôi vẫn được yên thân, bởi vẫn giữ kín cơ duyên “nhảy dù” vào nghề viết lời nhạc. Để mọi người đều hiểu lầm rằng Trần Trịnh phổ thơ tôi.

Khi ấy tôi viết thêm lời 3 cho Lệ Đá khi đi công tác ở Sóc Trăng, Cà Mau. Nơi Rừng Mắm của Bình Nguyên Lộc với muỗi mòng dễ nể. Nhà văn Bình Nguyên Lộc dọa, chỉ cần quơ tay một cái là đã túm được cả chục con muỗí. Bạn bè hăm, trâu bò còn phải ngủ trong mùng. Khách sạn tỉnh lẻ không khá gì hơn mấy quán trọ trong phim Anh Hùng Xạ Điêu, Cô Gái Đồ Long. Thực khách vừa nhâm nhi, vừa quơ chưởng, đuổi muỗí. Mới chập tối, tôi đã chui vô chiếc mùng thố. Và buồn tình tôi viết lời Lệ Đá 3:


Lệ Đá lời 3 (Tháng 9, 1968)

Từ những đam mê… xa trong cuộc đời / Từ những cơn vui… tan theo nụ cười / Từ phút trao đi… cuộc tình thứ nhất / Giá băng khi… tuổi hồng đã mất / Dấu bèo chìm… khuất sóng xa khơi

Dòng tóc mây thơ… trên vai rủ mềm / Mười ngón tay em… đan trong tủi phiền / Lời hứa cao bay… cuộc tình cút bắt / Giấc mơ hoa… đầu đời đã tắt / Có gì vừa… trôi qua tầm tay

ĐK:Người đi… đi mãi… không về/ Thời gian… xoá vội… câu thề / Bóng anh… nhạt nhoà… bóng núi / Em với tình… yêu trăng soi

Lạy chúa ngôi… ba nghe con nguyện cầu / Và giúp cho con… quên đi tình sầu / Lời thánh ru êm… giọt đàn thống hối / Chúa trên cao… mỉm cười thứ lỗi / Những giọt đàn… vang trong trời tin

Sáng hôm sau, chỉ có Chúa ngôi ba mới biết được cơn sợ hãi của tôi đến cỡ nào khi thức giấc. Trong mùng tôi, cả trăm con muỗi đen đủi no căng đu mình say ngủ an bình !!!

Lệ Đá lời 4 (Riêng cho Khánh Liên, tháng 4, 1975)

Chiều 27/4/1975 tôi còn cái hẹn với người tình Khánh Liên ở Thị Nghè. Tình hình thời cuộc lúc đó biến chuyển cực nhanh, nên tôi không đến được với Khánh Liên, tôi đã không thể thu xếp để tới chỗ hẹn, nói lời từ giã cuối cùng với nàng. Nỗi buồn đeo cứng lấy tôi. Khi ngồi nín thở dưới hầm, khi ráng ngoi nhìn mặt sông Lòng Tảo lần cuốí. Nhìn mặt sông cuồn cuộn đau, khi thấp thoáng nghĩ ngàn dặm sẽ chia lìa cùng Sài Gòn, quê hương và người tình Khánh Liên…

Nên bài lời 4 này khởi viết từ tháng 4 và được hoàn chỉnh vào tháng 7/1975.


Từ nỗi xa đau… như đêm và ngày / Mỏi cánh thư bay… bay trong mùa đầy / Hòn đá đeo trên… cuộc đời héo hắt / Mãi bơi trong… vực sầu nước mắt / Chút tình buồn… lãng đãng men say

Người lỡ chia xa… đôi bên địa cầu / Tình lỡ chia xa… hai bên đỉnh sầu / Người đã xa khơi… cuộc tình tách bến / Chút hương xưa… làm thành vốn liếng / Cũng cùn mòn… theo chân thời gian

ĐK: Muà xanh… đã khép… mắt đời / Hè khô… nức nở… ma cười / Gió thu… liệm vàng… nỗi nhớ / Đông xám… màu tang… nơi nơi

Một nét sao bay… trên khung trời buồn / Ngọn lá me khô… lăn trên mặt đường / Tưởng tiếng chân quen… tìm về lối ngõ / Tiếng chân xưa… chỉ là tiếng gió / Gió thở dài… lung lay hồn trăng

Không rõ điều gì đã khiến tôi không xa rời được cái giao hưởng của Lệ Đá 1, 2, khiến đôi khi, khúc này hầu như là một phó bản, mô phỏng của khúc trước. Nó dẫn tôi quanh quẩn trong trình tự ấy không rời.


Lệ Đá lời 5 (Riêng cho Nguyệt Lãng)

Có lẽ tôi là một kẻ chung tình mang trái tim phản trắc. Năm 1992, tôi đắm hồn vào một tình yêu mới. Nguyễn Tà Cúc – Nguyệt Lãng – Ác Bà Bà, là Ba đại ác nhân và mỹ nhân, đã cho tôi hạnh phúc và hành tôi điêu đứng không cùng.

Nguyễn Tà Cúc thì không thể nào không… tà cho được. Nàng đến với tôi như một tiểu muội thứ thiệt. Rồi tôi đổ đốn đâm ra yêu tiểu muội, qua một phân thân của nàng là Nguyệt Lãng (sóng trăng).

“Tháng Một Buồn” in năm 1993, là thi tập ghi dấu tình tôi với nàng. Rồi Nguyệt Lãng lại phân thân, lần nữa. Từ cây bút hoa bướm hiệu đoàn, Ác Bà Bà soi kính chiếu yêu vào đời sống, văn chương. Và chứng tỏ năng khiếu trong lãnh vực phê bình văn học, và đàn hạch t.ư cách bất chính của nhà văn. Trong và ngoài văn chương.

Tôi xa nàng từ 1993. Dù cái tình của chúng tôi vẫn là ngàn đời chẳng thể chia xa. Và từ tháng Mười 1992 đến tháng Chạp 2002, đã là hơn 10 năm vèo qua trong thân tình, chúng tôi vẫn chưa hề giáp mặt nhau, dù chỉ một lần. Dù tôi đến Cali nhiều bận. Rất nhiều bận. Không gặp, phải chăng là cố gắng phi thường của chúng tôí. Để giữ cho tình mãi đẹp. Cho dù, những năm sau này, tiểu muội của tôi đã trong tình trạng không còn ràng buộc bởi hôn nhân.


Từ lúc yêu trăng… tiêu hoang cuộc đời / Từ phút say hoa… tương t.ư biển trời / Muội rót cho huynh… ngọt ngào suối biếc / Đắm say trên…từng hàng chữ viết / Cũng muộn phiền… suốt kiếp chưa vơi

Sợi tóc biên cương… xa hơn ngàn trùng / Nguyệt lãng sông chiạ.. tang thương chẳng cùng / Là nhánh phong lan… vì người vẫy gió / Lúc trăng vơi… người còn mãi nhớ / Vẫn nồng nàn… thơm hương tịnh yên

ĐK: Tình đau… lấp lánh… cuối trời / Ngàn khuya… gió thở… vai người / Tóc đêm… mượt mà… suối nhớ / Trăng đắm… hồn sị.. trăng trôi

Tình lỡ đăng quang… sông vui, dặm phiền / Còn chút dư hương… vương trên cỏ hiền / Để mãi thương nhau… đời này kiếp khác / Những đêm sâu… thảng lời gió hát / Khúc tình hoài… trăm năm, ngàn năm

Với giai điệu buồn, tha thiết nhiều hoài niệm nhưng không hề bi lụy, “Lệ đá ” vẫn luôn giữ một vị trí đặc biệt trong lòng người yêu nhạc. Dù đã ra đời hơn 40 năm, nhưng “Lệ Đá” vẫn được nhiều ca sĩ trẻ chọn để biểu diễn rất thành công.

Đến phim ảnh

"Lệ đá" còn được chọn làm tên một bộ phim quay bởi đạo diễn Võ Doãn Châu, và ông cũng mua bản quyền nhạc phẩm để đưa vào trong phim này với giọng ca Khánh Ly.

Đây là một bộ phim thuộc thể loại phim kinh dị được công chiếu vào năm 1971. Nội dung phim kể về Trường Kỳ và Trang. Tuy lần đầu gặp nhau nhưng họ đã trở thành một cặp tình nhân không thể rời xa được. Trong một lần vô tình Trang đi nhầm vào một công trường đang xây và cấm người qua lại. Tại đây, Trang gặp tai nạn bỏ mạng, máu của Trang chảy và thấm vào đầu một con Kỳ Lân bằng đá và không ai có thể rửa sạch được. Năm năm sau, nàng nhập vào người đàn ông tên Huỳnh và đi tìm Kỳ để đòi tình. Sau đó khi cô bất chợt nhìn thấy thân xác mới đầy khủng khiếp của mình vì ông Huỳnh bị vợ bắn vào đầu. Trang liền bỏ đi vì biết rằng mình đã chiếm một thân xác “vô dụng”. Sau sự ra đi của Trang, người ta đã lau sạch vết trên người con Kỳ Lân.

Cuốn phim Lệ Đá đoạt giải thưởng nghệ thuật năm 1971.

Về nhạc sĩ


Nhạc Sĩ Trần Trịnh, tên thật là Trần Văn Lượng, sinh năm 1937 tại Thái Lan, lớn lên ở Hà Nội, vào Nam năm 1945. Ông đến Hoa Kỳ năm 1995, định cư tại California, vẫn sáng tác và hoạt động văn nghệ với nhóm The Stars Band. Ông qua đời tại thành phố Orange, California USA ngày 10 tháng 10, 2012.

Các ca khúc nổi bật: Cung đàn muôn điệu, Hai sắc hoa Tigôn, Lệ đá, Tiếng hát nửa vời, ...


- Bài viết lấy từ nhiều nguồn
 
Last edited:
Status
Not open for further replies.

Những đạo hữu đang tham gia đàm luận

Top